Ngưng tất cả các hoạt động trên Forum


 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN - Phân 10

Go down 
Tác giảThông điệp
boarding
Trung học
avatar

Tổng số bài gửi : 133
Join date : 13/05/2011
Age : 33
Đến từ : Sơn Động - Bắc Giang

Bài gửiTiêu đề: CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN - Phân 10   Mon Jun 27, 2011 10:35 am

CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN - Phân 10
ĐIỀU 14. Việc thông báo các số liệu
Theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực và tùy
theo các điều kiện, thể thức của kế hoạch làm việc, người khai thác thông báo
cho cơ quan quyền lực, theo những khoảng thời gian do cơ quan quyền lực
quy định, tất cả các số liệu vừa cần thiết, vừa thích hợp, nhằm để cho các cơ
quan chính của cơ quan quyền lực thi hành có hiệu quả các quyền hạn và chức
năng của họ có liên quan đến khu vực mà kế hoạch làm việc nhắm vào.
Các số liệu được thông báo về khu vực mà kế hoạch làm việc nhằm vào và
được coi là sở hữu công nghiệp chỉ có thể được sử dụng vào các mục đích nói
trong điều này. Các số liệu cần thiết cho cơ quan quyền lực trong việc soạn
thảo các quy tắc, quy định và thủ tục liên quan đến việc bảo vệ môi trường
biển và đến sự an toàn, ngoài các số liệu liên quan đến kiểu trang thiết bị, thì
không được coi là sở hữu công nghiệp.
Cơ quan quyền lực không được thông báo cho xí nghiệp hay bất kì ai ở bên
ngoài cơ quan quyền lực các số liệu mà những người thăm dò, những người
yêu cầu kí hợp đồng và những người kí kết hợp đồng cung cấp cho cơ quan
quyền lực và được coi là sở hữu công nghiệp, nhưng những số liệu liên quan
đến khu vực dành riền có thể được thông báo cho xí nghiệp. Xí nghiệp không
được thông báo cho cơ quan quyền lực hay cho bất kì ai ở bên ngoài cơ quan
quyền lực các số liệu cùng loại đó đã được cung cấp cho xí nghiệp theo cách
nói trên.
ĐIỀU 15. Các chương trình đào tạo
Người kí kết hợp đồng vạch ra các chương trình thực tiễn đào tạo nhân viên
của cơ quan quyền lực và của các quốc gia đang phát triển, nhất là trù định sự
tham gia của các nhân viên nói trên vào tất cả các hoạt động tiến hành trong
vùng thuộc đối tượng của hợp đồng, theo đúng Điều 144, khoản 2.
ĐIỀU 16. Độc quyền về thăm dò và khai thác
Cơ quan quyền lực, theo Phần XI và các quy tắc, quy định và thủ tục của mình
cho người khai thác đặc quyền thăm dò, khai thác một loại tài nguyên nhất
định trong khu vực và kế hoạch làm việc nhằm vào và luôn luôn chú ý để
không cho một thực thể hay một cá nhân nào khác tiến hành trong cùng khu
vực nói trên, các hoạt động nhằm vào một loại tài nguyên khác, một cách có

thể gây trở ngại cho các hoạt động cho người khai thác. Người khai thác được
bảo đảm danh nghĩa theo đúng Điểm 153, khoản 6.
ĐIỀU 17. Quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực
1. Cơ quan quyền lực thông qua và áp dụng một cách thống nhất các quy
định, quy tắc và thủ tục theo Điều 160, khoản 2, điểm f,ii và Điều 162, khoản
2, điểm o,ii để thi hành các chức trách của mình như đã được nêu ở phần XI,
nhất là về các vấn đề sau:
a. Các thủ tục hành chánh liên quan đến việc khảo sát, thăm dò và khai
thác trong vùng;
b.
Các nghiệp vụ;
i.
ii.
Diện tích của khu vực;
Thời hạn của các nghiệp vụ
iii.Các quy phạm hiệu lực, kế cả những bảo đảm đã được trù định ở
điều 4, khoản 6, điểm c của phụ lục này;
iv.
v.
vi.
vii.
viii.
Các loại tài nguyên;
Sự từ bỏ các khu vực;
Các báo cáo về tiến trình của công việc;
Thông báo các số liệu;
Kiểm tra và kiểm soát các nghiệp vụ;
ix.Các biện pháp được thi hành để không làm cản trở đến các hoạt
động khác trong môi trường biển;
x.Việc một người kí kết hợp đồng chuyển nhượng các quyền và
nghĩa vụ của mình;
xi.Các thủ tục liên quan đến việc chuyển giao các kĩ thuật cho các
quốc gia đang phát triển theo đúng Điều 144, cũng như đến việc tham gia trực
tiếp của các quốc gia này;
xii.Quy phạm và tập quán khai thác khoáng sản, kể cả những quy
phạm và tập quán có quan hệ đến an toàn của các nghiệp vụ, đến việc bảo tồn
các tài nguyên và việc bảo vệ môi trường biển;

xiii.
xiv.
c.
Xác định việc sản xuất hàng hóa;
Các tiêu chuẩn về tư cách của các người yêu cầu.
Những vấn đề tài chính:
i.Soạn thảo các quy tắc thống nhất và không phân biệt đối xử về
việc tính toán giá cả và về kế toán và biện pháp lực chọn các nhân viên kiểm
tra;
ii.
iii.
Phân chia các khoản thu được từ các nghiệp vụ;
Các kích thích nêu ở điều 13 của khu vực này;
d. Thi hành các quyết định theo Điều 151, khoản 10 và Điều 164, khoản
2, điểm d;
2. Các quy tắc, quy định và thủ tục liên quan đến những vấn đề sau đây
cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn khách quan được nêu dưới đây:
a.
Diện tích của khu vực:
Cơ quan quyền lực quy định diện tích của các khu vực thăm dò có thể đến
mức lớn gấp đôi diện tích các khu vực khai thác, để cho việc thăm dò có hiệu
suất hơn. Diện tích các khu vực khai thác được tính toán để đáp ứng được các
đòi hỏi của Điều 8 của phụ lục này, liên quan đến việc dành riêng các khu vực,
cũng như đáp ứng các đòi hỏi về sản xuất đã được trù định; các đòi hỏi này
phải phù hợp với điều 151 và các điều khoản của hợp đồng, có tính đến tình
trạng các kĩ thuật sẵn có trong lĩnh vực khai thác khoáng sản ở đáy biển và các
đặc điểm tự nhiên thích đáng của khu vực. Diện tích của các khu vực không
thể nhỏ hơn hay lớn hơn diện tích cần thiết để đáp ứng mục tiêu này.
b.
Thời gian của các nghiệp vụ:
i.
Thời gian khảo sát là không giới hạn;
ii.Thời gian của giai đoạn thăm dò phải đủ để cho phép tiến hành
công tác nghiên cứu kĩ càng đối với khu vực được nhắm đến, công tác nghiên
cứu và xây dựng phương tiện khai thác đối với khu vực này, việc lập các kế
hoạch, việc xây dựng các nhà máy chế biến có công suất nhỏ và vừa để tiến
hành việc thử các hệ thong khai thác và chế biến kim loại.
iii.Thời gian khai thác phải tùy thuộc vào thời gian hoạt động kinh
tế của dự án khai thác mỏ, có tính đến các yếu tố như: vỉa quặng bị cạn, tuổi

thọ của phương tiện khai thác, các thiết bị chế biến và khả năng đứng vững về
thương mại. Thời gian của giai đoạn khai thác phải đủ để cho phép tiến hành
việc khai thác hàng hóa các khoáng sản của khu vực và cần phải bao gồm một
thời hạn hợp lý để xây dựng các thiết bị khai thác mỏ và chế biến trên quy mô
thương mại, thời hạn mà trong đó chưa thể đòi hỏi bất cứ một sự sản xuất hàng
hóa nào. Tuy nhiên, toàn bộ thời gian khai thác cũng cần phải tương đối ngắn
để cho cơ quan quyền lực có thể sửa đổi các điều kiện và thể thức của kế
hoạch làm việc vào lúc mà cơ quan quyền lực nghiên cứu việc kí lại kế hoạch
làm việc đó, theo đúng các quy tắc, quy định và thủ tục mà cơ quan quyền lực
đã thông qua sau khi đã chuẩn y kế hoạch làm việc;
c.
Các quy phạm về hiệu lực:
Trong giai đoạn thăm dò, cơ quan quyền lực đòi hỏi người khai thác phải
tiến hành chỉ tiêu theo định kì tương ứng hợp lý với diện tích khu vực mà kế
hoạch làm việc nhằm vào và với các khoản chi phí cần phải chi của một người
khai thác trung thực dự định tiến hành việc sản xuất hàng hóa ở khu vực đó,
trong những thời hạn do cơ quan quyền lực ấn đinh. Không được ấn định
những chi phí cần thiết trên đây ở mức độ gây nản lòng những người khai thác
sử dụng những kĩ thuật rẻ tiền hơn các kĩ thuật thường dùng. Cơ quan quyền
lực ấn định một thời hạn tối đa để bắt đầu việc sản xuất hàng hóa, sau khi kết
thúc giai đoạn thăm dò và những hoạt động khai thác đầu tiên. Để xác định
thời hạn này, Cơ quan quyền lực cần tính đến tình hình là việc xây dựng các
thiết bị khai thác và chế biến quan trọng chỉ có thế được tiến hành khi giai
đoạn thăm dò đã kết thức và giai đoạn khai thác đã bắt đầu. Do đó, thời hạn
được dành để chuẩn bị bắt đầu sản xuất hàng hóa của một khu vực cần phải
được ấn định có tính đến thời gian cần thiết để xây dựng các thiết bị này sau
giai đoạn thăm dò; hơn nữa, nên trù định các thời hạn hợp lý cho những chậm
trễ không thể tránh được trong chương trình xây dựng. Một khi đã đạt tới gia
đoạn sản xuất hàng hóa, cơ quan quyền lực yêu cầu người khai thác tiếp tục
việc sản xuất hàng hóa này trong suốt thời gian của kế hoạch làm việc mà vẫn
ở trong phạm vi các giới hạn hợp lý và vẫn chú ý tới tất cả các yếu tố tương
ứng.
d.
Các loại tài nguyên
Để xác định các loại tài nguyên mà đối với chúng các kế hoạch làm việc có
thể được chuẩn y, ngoài các yếu tố khác, cơ quan quyền lực dựa vào các yếu tố
sau đây:

i. Việc những tài nguyên khác nhau cần đến biện pháp khai thác
giống nhau;
ii. Việc các tài nguyên khác nhau có thể được nhiều người khai
thác đồng thời trong cùng một khu vực mà không gây quá nhiều trở ngại cho
nhau;
Điều quy định này không cản trở cơ quan quyền lực chuẩn y một kế hoạch
làm việc đối với nhiều loại tài nguyên trong cùng khu vực;
e.
Từ bỏ các khu vực:
Người khai thác vào bất kì lúc nào cũng có thể từ bỏ tất cả hay bộ phận các
quyền của mình đối với khu vực do kế hoạch làm việc nhằm vào mà không bị
phạt;
f.
Bảo vệ môi trường biển:
Các quy tắc, quy định và thủ tục được định ra nhằm bảo vệ có hiệu quả môi
trường biển, trước những tác hại trực tiếp nảy sinh từ các hoạt động tiến hành
trong vùng, hay từ việc tinh chế các khoáng sản lấy được từ một địa điểm khai
thác trên một con tàu ở ngay trên địa điểm khai thác khoáng sản đó, có tính
đến mức độ trong đó các tác hại như thế có thể trực tiếp do các hoạt động
khoan, nạo vét, khoan lấy lõi đất và đào, cũng như việc tháo đổ, nhận chìm và
vứt bỏ trong môi trường biển các chất cặn bã hay nước thải gây ra.
g.
Sản xuất hàng hóa
Việc sản xuất hàng hóa được coi như đã bắt đầu khi một người khai thác đã
thực hiện các hoạt động khai thác liên tục và ở trên quy mô lớn, sản xuất được
một số lượng vật phẩm quan trọng, đủ để chứng tỏ rõ rang mục tiêu chủ yếu
của các hoạt động đó là một việc sản xuất trên quy mô lớn và không phải là
một việc sản xuất nhằm để thu thập thông tin, tiến hành các công việc phân
tích hay thử nghiệm các công cụ hay thiết bị
ĐIỀU 18. Phạt
Các quyền theo hợp đồng của người kí kết hợp đồng chỉ có thể bị đình chỉ
hay chấm dứt trong các trường hợp sau:
Khi mà mặc dù đã có những lời cảnh cáo của cơ quan quyền lực, người kí
hợp đồng vẫn tiến hành các hoạt động của mình theo cách dẫn đến những vi
phạm nghiêm trọng, kéo dài và cố ý, đối với các điều khoản cơ bản của hợp

đồng, đối với các quy tắc, quy định và thủ tục của cơ quan quyền lực và đối
với phần XI, hoặc
Khi người kí kết hợp đồng không tuân theo một quyết định dứt khoát và bắt
buộc do cơ quan giải quyết các tranh chấp đề ra cho mình.
Trong những trường hợp vi phạm các điều khoản của hợp đồng ngoài các
trường hợp nói ở khoản 1, điểm a, hoặc thay cho việc tuyên bố đình chỉ hay
hủy bỏ hợp đồng, trong các trường hợp nói ở khoản 1, điểm a. Cơ quan quyền
lực có thể bắt người kí hợp đồng chịu những khoản tiền phạt theo tỉ lệ về mức
độ nghiêm trọng của việc vi phạm.
Trừ trường hợp các mệnh lệnh được đưa ra trong tình hình khẩn cấp theo
Điều 162, khoản 2, điểm w, Cơ quan quyền lực chưa thể thi hành một quyết
định liên quan đến các khoản tiền phạt hoặc đến việc đình chỉ hay hủy bỏ hợp
đồng, chừng nào người kí hợp đồng chưa có khả năng hợp lý để khai thác hết
những căn cứ pháp lý mà mình có, theo đúng Mục 5 của Phần XI.
ĐIỀU 19. Xét lại hợp đồng
Theo ý kiến của một trong các bên, khi xảy ra hay có thể xảy ra các hoàn
cảnh có tác dụng làm cho một hợp đồng trở nên không công bằng, hoặc gây
tổn hại, hoặc ngăn cản việc thực hiện các mục tiêu được đề ra trong hợp đồng,
hay trong phần XI, các bên tiến hành các cuộc thương lượng nhằm xét lại hợp
đồng theo hoàn cảnh mới
Một hợp đồng được kí kết theo đúng Điều 153, khoản 3, chỉ có thể được
xét lại với sự thỏa thuận của các bên kí kết.
ĐIỀU 20. Chuyền giao các quyền và nghĩa vụ
Các quyền và các nghĩa vụ nảy sinh từ một hợp đồng chỉ được chuyển giao
với sự thỏa thuận của Cơ quan quyền lực và theo đúng các quy tắc, quy định,
thủ tục của nó. Nếu không có lý do đầy đủ, Cơ quan quyền lực không được từ
chối việc chấp thuận sự chuyển giao, nếu xét về mọi phương diện, người có
thể được giao là một người yêu cầu có tư cách và bảo đảm tất cả các nghĩa vụ
của người giao, và nếu việc chuyển giao không giao cho người được giao một
kế hoạch làm việc mà việc chuẩn y đã bị cấm theo Điều 6, khoản 3, điểm c của
phụ lục này.
ĐIỀU 21. Luật áp dụng

Hợp đồng thuộc sự điều chỉnh của các điều khoản của hợp đồng, các quy
tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực, Phần XI, cũng như các quy
tắc khác của pháp luật quốc tế không mâu thuẫn với Công ước.
Mọi quyết định cuối cùng do một tòa án có thẩm quyền theo Công ước đưa
ra về quyền và các nghĩa vụ của Cơ quan quyền lực và của người kí hợp đồng
có hiệu lực trên lãnh thổ của bất kì quốc gia thành viên nào.
Một quốc gia thành viên không thể bắt một người kí kết hợp đồng phải theo
các điều kiện không phù hợp với Phần XI. Tuy nhiên, việc một quốc gia thành
viên áp dụng đối với những người kí kết hợp đồng do mình bảo trợ hay đối với
các tàu mang cờ nước minh, các luật và quy định liên quan đến việc bảo vệ
môi trường biển hay các luật và quy định khác chặt chẽ hơn các quy tắc, quy
định, thủ tục do Cơ quan quyền lực đặt ra theo Điều 17, khoản 2, điểm f của
phụ lục này, không bị coi là không phù hợp với Phần XI.
ĐIỀU 22. Trách nhiệm
Người kí kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất do một hành
động trái phép của họ trong khi tiến hành công việc gây ra, có tính đến phần
trách nhiệm có thể quy cho Cơ quan quyền lực do các hành động hay thiếu sót
của cơ quan này, Cơ quan quyền lực cũng phải chịu trách nhiệm về những tổn
thất do những hành động trái phép mà họ phạm phải trong khi thực hiện các
quyền hạn và chức năng của mình, kể cả các hành động vi phạm Điều 186,
khoản 2, có tính đến phần trách nhiệm có thể quy cho người kí kết do những
hành động hay thiếu sót của họ. Trong mọi trường hợp, mức bồi thường phải
tương ứng với thiệt hại thực sự.

PHỤ LỤC IV
QUY CHẾ CỦA XÍ NGHIỆP
ĐIỀU 1. Các mục đích
1. Xí nghiệp là cơ quan của Cơ quan quyền lực trực tiếp tiến hành các hoạt
động trong Vùng theo Điều 153, khoản 2, điểm a, cũng như các hoạt động
vận chuyển, chế biến và tiêu thụ các khoáng sản được khai thác từ Vùng.
2. Để thực hiện những mục đích và thi hành các chức năng của mình, Xí
nghiệp hành động theo đúng Công ước, các quy tắc, quy định và thủ tục của
Cơ quan quyền lực.
3. Để khai thác các tài nguyên của Vùng theo khoản 1, với điều kiện phải
tuân theo Công ước, Xí nghiệp tiến hành các hoạt động của mình theo đúng
các nguyên tắc quản lý thương mại đúng đắn.
ĐIỀU 2. Các quan hệ với cơ quan quyền lực
1. Theo Điều 170, Xí nghiệp hành động theo đúng chính sách chung do Đại
hội động quyết định và theo đúng các chỉ thị của Hội đồng.
2. Với điều kiện tuân thủ khoản 1, Xí nghiệp hành động theo cách tự quản.
3. Không một điều quy định nào của Công ước làm cho Xí nghiệp có trách
nhiệm về những hành động hay nghĩa vụ của Cơ quan quyền lực, cũng
không làm cho Cơ quan quyền lực chịu trách nhiệm về những hành động
hay nghĩa vụ của Xí nghiệp.
ĐIỀU 3. Giới hạn trách nhiệm
Không phương hại đến Điều 11, Khoản 3 của Phụ lục này, không một uỷ
viên nào của Cơ quan quyền lực phải chịu trách nhiệm về những hành động
hay nghĩa vụ của Xí nghiệp chỉ vì tư cách uỷ viên của mình.
ĐIỀU 4. Cơ cấu
Xí nghiệp có một Hội đồng quản trị, một Tổng giám đốc và nhân viên cần
thiết để thực hiện các chức năng của mình.
ĐIỀU 5. Hội đồng quản trị

1. Hội đồng quản trị gồm có 15 uỷ viên được Đại hội đồng bầu ra theo đúng
Điều 160, khoản 2, điểm c. Khi bầu các uỷ viên của Hội đồng quản trị, phải
tính đến các nguyên tắc phân chia công bằng về mặt địa lý. Trong khi bầu
cử các ứng cử viên vào Hội đồng, các uỷ viên của Cơ quan quyền lực cần
tính đến sự cần thiết phải chỉ định các ứng cử viên tinh thông nhất về
nghiệp vụ và có các phẩm chất cần thiết trong các lĩnh vực thích hợp để bảo
đảm khả năng đứng vững và thành công của Xí nghiệp.
2. Các uỷ viên của Hội đồng quản trị được bầu ra với một nhiệm kỳ 4 năm
và có thể được bầu lại. Khi bầu và bầu lại các uỷ viên của Hội đồng quản
trị, phải tính đến các nguyên tắc luân phiên.
3. Các uỷ viên của Hội đồng quản trị làm nhiệm vụ cho đến khi bầu những
người thay thế. Nếu khiếm khuyết một uỷ viên của Hội đồng quản trị, thì
theo Điều 160, khoản 2, điểm c, Đại hội đồng bầu một uỷ viên mới cho
khoảng thời gian còn lại thuộc nhiệm kỳ của uỷ viên bị khuyết.
4. Các uỷ viên của Hội đồng quản trị hành động với tư cách cá nhân. Trong
khi thi hành chức trách của mình, họ không được xin, nhận các chỉ thị của
một chính phủ nào hay của một nguồn nào khác. Các uỷ viên của Cơ quan
quyền lực tôn trọng tính độc lập của các uỷ viên của Hội đồng quản trị và
tránh bất kỳ ý đồ nào gây ảnh hưởng đến các uỷ viên của Hội đồng quản trị
trong việc thi hành các chức trách của họ.
5. Mỗi uỷ viên của Hội đồng quản trị được nhận một khoản tiền thù lao tính
vào các nguồn tài chính của Xí nghiệp. Số tiền thù lao này được Đại hội
đồng quy định, dựa theo kiến nghị của Hội đồng.
6. Bình thường, Hội đồng quản trị làm việc tại trụ sở cơ sở chính của Xí
nghiệp và nhóm họp mỗi khi công việc của Xí nghiệp đòi hỏi.
7. Số đại biểu cần thiết (quorum) là hai phần ba số uỷ viên của Đại hội
đồng quản trị.
8. Mỗi uỷ viên của Hội đồng quản trị có một phiếu. Hội đồng quản trị quyết
định về tất cả các vấn đề mà mình xem xét theo đa số các uỷ viên của mình.
Nếu có vấn đề nào gây nên tranh chấp về quyền lợi đối với một uỷ viên thì
uỷ viên này không tham gia bỏ phiếu về vấn đề này.
9. Bất kỳ uỷ viên nào của Cơ quan quyền lực cũng có thể yêu cầu Hội đồng
quản trị cung cấp các thông tin liên quan đến các hoạt động có quan hệ đặc
biệt đến mình. Hội đồng cố gắng cung cấp các thông tin này.
ĐIỀU 6. Các quyền hạn và chức năng của hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị điều hành Xí nghiệp. Với điều kiện chấp hành Công ước,
Hội đồng quản trị thi hành các quyền hạn cần thiết để thực hiện các mục
đích của Xí nghiệp, kể các các quyền:
a) Bầu một Chủ tịch trong số các uỷ viên của mình;
b) Thông qua quy chế nội bộ của mình;
c) Lập và gửi lên Hội đồng các kế hoạch làm việc theo đúng thể thức
và bằng văn bản theo đúng Điều 153, khoản 3, và Điều 162, khoản 2, điểm
j;
d) Soạn thảo các kế hoạch làm việc và các chương tình để thực hiện
các hoạt động nói trong Điều 170;
e) Thảo và trình lên Hội đồng những đơn xin cấp giấy phép sản xuất,
theo đúng Điều 151, các khoản 2 đến 7;
f) Cho phép các cuộc thương lượng liên quan đến việc mua các kỹ
thuật, nhất là các cuộc thương lượng đã trù định ở Điều 5, khoản 3, điểm a,
c và d của Phụ lục III, và chuẩn y các kết quả của các cuộc thương lượng
này.
g) Ấn định các điều kiện và thể thức cho phép các cuộc thương lượng
liên quan đến các xí nghiệp liên doanh và các hình thức thoả thuận về liên
doanh khác đã nói trong các Điều 9 và 11 của Phụ lục III và chuẩn y các kết
quả của các cuộc thương lượng này;
h) Làm các kiến nghị lên Đại hội đồng về phần thu nhập thuần tuý
của xí nghiệp cần phải được dành ra để lập nên các dự trữ theo đúng Điều
16 khoản 2, điểm f, và Điều 10 của Phụ lục này;
i) Chuẩn y ngân sách hàng năm của Xí nghiệp;
j) Cho phép mua tài sản và thuê dịch vụ theo đúng Điều 12, Khoản 3
của Phụ lục này;
k) Trình báo cáo hàng năm lên Hội đồng theo đúng Điều 9 của Phụ
lục này;
l) Trình lên Hội đồng để được Đại hội đồng chuẩn y các dự thảo quy
tắc liên quan đến tổ chức, quản lý, bổ nhiệm và thải hồi nhân viên của Xí
nghiệp, và thông qua các quy định đem lại hiệu lực cho các quy tắc này;
m) Vay vốn và cung cấp những bảo hành và bảo đảm khác mà mình
xác định theo đúng Điều 11, khoản 2 của Phụ lục này;
n) Quyết định việc kiện tụng, ký các hiệp định, thực hiện những cuộc
giao dịch và thi hành mọi biện pháp khác theo sự trù định trong Điều 13
của Phụ lục này;
o) Uỷ nhiệm, với điều kiện được sự chuẩn y của Hội đồng, mọi
quyền hạn không có tính chất tuỳ ý quyết định cho các uỷ ban hay Tổng
giám đốc của mình;
ĐIỀU 7. Tổng giám đốc và nhân viên
1. Dựa theo kiến nghị của Hội đồng, Đại hội đồng bầu ra trong số các ứng
cử viên do Hội đồng quản trị đề nghị, một Tổng giám đốc Xí nghiệp, người

này không được là uỷ viên của Hội đồng quản trị. Tổng giám đốc được bầu
trong một nhiệm kỳ nhất định không quá 5 năm và có thể được bầu lại cho
những nhiệm kỳ sau.
2. Tổng giám đốc là người đại diện hợp pháp của Xí nghiệp và là người
đứng đầu Xí nghiệp về mặt hành chính, trực tiếp chịu trách nhiệm trước
Hội đồng quản trị trong việc điều hành các hoạt động của Xí nghiệp. Tổng
giám đốc chịu trách nhiệm về tổ chức, quản lý, bổ nhiệm và bãi miễn nhân
viên, theo đúng quy tắc và quy định nêu ở Điều 6, điểm 1 của Phụ lục này.
Tổng giám đốc tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị, nhưng không
có quyền bỏ phiếu; ông ta có thể tham gia các cuộc họp của Đại hội đồng
và của Hội đồng khi các cơ quan này xem xét những vấn đề liên quan đến
Xí nghiệp, nhưng không có quyền bỏ phiếu.
3. Căn cứ bao trùm trong việc tuyển mộ và quyết định các điều kiện sử
dụng nhân viên là bảo đảm cho Xí nghiệp những người phục vụ có năng lực
làm việc cao nhất và tinh thông nghiệp vụ nhất. Ngoài ra, phải tính đến tầm
quan trọng của việc tuyển mộ trên cơ sở công bằng về mặt địa lý.
4. Trong khi thi hành các chức trách của mình, Tổng giám đốc và nhân viên
của Xí nghiệp không được xin, nhận các chỉ thị của một chính phủ nào hoặc
của một nguồn nào khác, ngoài Xí nghiệp. Họ tránh bất kỳ hành vi nào
không phù hợp với tư cách viên chức quốc tế của Xí nghiệp và chỉ chịu
trách nhiệm trước Xí nghiệp. Mỗi quốc gia thành viên cam kết tôn trọng
tính chất quốc tế thuần tuý của các chức trách Tổng giám đốc và nhân viên
của Xí nghiệp và không tìm các gây ảnh hưởng tới việc thi hành nhiệm vụ
của họ.
5. Các nhân viên của Xí nghiệp cũng có những trách nhiệm nói ở Điều 168,
khoản 2.
ĐIỀU 8. Địa điểm
Xí nghiệp có văn phòng chính đặt tại trụ sở của Cơ quan quyền lực;
Xí nghiệp có thể mở các văn phòng và các cơ sở khác ở trên lãnh thổ của
bất kỳ quốc gia thành viên nào với sự thoả thuận của quốc gia này.
ĐIỀU 9. Các báo cáo và các bản quyết toán tài chính
1. Trong một thời hạn 3 tháng sau khi kết thúc mỗi tài khoá. Xí nghiệp phải
gửi một báo cáo hàng năm, bao gồm một bản quyết toán tài chính đã được
thẩm tra lên cho Hội đồng xem xét, và trong những khoảng thời gian thích
hợp gửi lên Hội đồng một bản quyết toán tài chính tổng hợp về tình hình tài

chính của mình và một bản quyết toán các khoản lỗ, lãi, thể hiện kết quả
khai thác của mình.
2. Xí nghiệp công bố báo cáo hàng năm của mình và tất cả các bản quyết
toán mà mình xét thấy cần thiết.
3. Tất cả các báo cáo và các bản quyết toán tài chính đã nêu trong điều này
được gửi cho các uỷ viên của Cơ quan quyền lực.
ĐIỀU 10. Phân chia thu nhập thuần tuý
1. Với điều kiện tuân thủ khoản 3, Xí nghiệp nộp cho Cơ quan quyền lực
các khoản tiền được trù định trong Điều 13 của Phụ lục III hoặc một thứ
tương đương.
2. Dựa theo kiến nghị của Hội đồng quản trị, Đại hội đồng quy định phần
thu nhập thuần tuý của Xí nghiệp cần phải được dành ra để lập nên các quỹ
dự trữ, số dư được chuyển cho Cơ quan quyền lực.
3. Trong thời kỳ ban đầu, cần thiết đối với Xí nghiệp để tự túc cho chính
mình với một thời gian tối đa là 10 năm, kể từ khi bắt đầu việc sản xuất
hàng hoá, Đại hội đồng miễn cho Xí nghiệp những khoản nộp đã nêu ở
khoản 1 và đưa toàn bộ thu nhập thuần tuý của Xí nghiệp vào trong các quỹ
dự trữ của Xí nghiệp.
ĐIỀU 11. Tài chính
1. Các nguồn tài chính của Xí nghiệp gồm có:
a) Các khoản tiền nhận được của Cơ quan quyền lực phù hợp với
Điều 173, khoản 2, điểm b;
b) Những đóng góp tự nguyện của các quốc gia thành viên nhằm mục
đích tài trợ cho các hoạt động của Xí nghiệp;
c) Tổng số tiền vay mượn của Xí nghiệp theo đúng các khoản 2 và 3;
d) Thu nhập mà Xí nghiệp rút ra được từ các hoạt động của mình;
e) Các nguồn tài chính khác giao cho Xí nghiệp sử dụng để cho phép
Xí nghiệp bắt đầu công việc của mình càng sớm càng tốt và việc thi hành
các chức năng của mình.
2. a) Xí nghiệp có quyền đi vay và cung cấp một sự bảo hành hay bảo đảm
khác mà Xí nghiệp có thể xác định được. Trước khi tiến hành việc công
khai bán các trái phiếu của mình trên thị trường tài chính hay bằng đồng
tiền của một quốc gia thành viên, Xí nghiệp phải được sự đồng ý của quốc
gia này. Tổng số tiền vay mượn phải được Hội đồng chuẩn y dựa theo ý
kiến của Hội đồng quản trị.

b) Các quốc gia thành viên cố gắng hết sức trong phạm vi hợp lý ủng
hộ các yêu cầu vay mượn của Xí nghiệp ở trên các thị trường tài chính và
với các cơ quan tài chính quốc tế.
3. a) Xí nghiệp được cung cấp các nguồn tài chính cần thiết để thăm dò và
khai thác một khu vực nhỏ, đẻ bảo đảm việc vận chuyển, chế biến và tiêu
thụ các khoáng sản mà Xí nghiệp khai thác được ở đó và các kim loại như
kền, đồng, cô-ban và măng-gan lấy ra từ các khoáng sản và để trang trải
những chi phí quản lý ban đầu của mình. Uỷ ban trù bị chỉ rõ trong dự thoả
về các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực, tổng số các
nguồn tài chính này, cũng như các tiêu chuẩn và yếu tố để thực hiện các
điều chỉnh cần thiết;
b) Tất cả các quốc gia thành viên cung cấp cho các Xí nghiệp một số
tiền tương đương với một nửa các nguồn tài chính đã nêu ở điểm a, dưới
hình thức cho vay dài hạn không lấy lãi, theo đúng ba-rem của các khoản
đóng góp vào ngân sách thông thường của Liên hợp quốc hiện hàng, vào
lúc nộp những khoản đóng góp này với những điều chỉnh, vì có các quốc
gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc. Nửa khác của các nguồn
tài chính của Xí nghiệp là các khoản do Xí nghiệp vay với sự bảo đảm của
các quốc gia thành viên theo ba-rem nói trên;
c) Nếu tổng số tiền đóng góp của các quốc gia thành viên thấp hơn
tổng số tiền của các nguồn tài chính phải được cung cấp cho Xí nghiệp theo
điểm a, Đại hội đồng xem xét ở khoá họp đầu tiên của mình chỗ thiếu hụt
và có tính đến những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo các điểm a
và b và đến các kiến nghị của uỷ ban trù bị để thông qua bằng consensus
(thoả thuận) các biện pháp về khoản thiếu hụt này;
d) i. Trong 60 ngày sau khi Công ước có hiệu lực hay trong 30 ngày
tiếp theo ngày gửi lưu chiểu các tài liệu phê chuẩn hay gia nhập, thời hạn
nào dài nhất thì được sử dụng, mỗi quốc gia thành viên cần gửi tới Xí
nghiệp các kỳ phiếu không thể chuyển đổi, không thể chuyển dịch hay
không có lãi tương đương với số tiền thuộc phần mình về các khoản tiền
cho vay không có lãi nói ở điểm b;
ii. Càng sớm càng tốt, sau khi Công ước bắt đầu có hiệu lực, sau đó
cứ hàng năm hay theo những khoảng thời gian thích hợp khác, Hội đồng
quản trị của Xí nghiệp, cùng với sổ kỳ hạn (échéancier) cấp kinh phí cho
các chi tiêu hành chính của xí nghiệp và cho các hoạt động mà xí nghiệp
tiến hành theo Điều 170 và Điều 12 của Phụ lục này;
iii. Qua trung gian của Cơ quan quyền lực, Xí nghiệp thông báo cho
các quốc gian thành viên phần đóng góp của họ và các chi phí này, được
xác định theo đúng điểm b; Xí nghiệp thu các kỳ phiếu tương đương với
tổng số tiền cần thiết để bảo đảm các khoản chi tiêu đã ghi trong sổ kỳ hạn
cấp kinh phí, có tính đến những khoản vay không có lãi;

iv. Ngay khi nhận được thông báo, các quốc gia thành viên giao cho
Xí nghiệp sử dụng các phần bảo đảm của mình đối với các khoản vay nợ
theo đúng điểm b;
e) i. Nếu Xí nghiệp yêu cầu, các quốc gia thành viên có thể cung cấp
các khoản bảo đảm nợ, thêm vào các khoản mà họ cung cấp theo ba-rem
nói ở điểm b;
ii. Thay thế cho một sự bảo đảm nợ, một quốc gia thành viên có thể
nộp cho Xí nghiệp một khoản đóng góp tự nguyện với một số tiền tương
đương với phần nợ mà quốc gia đó có thể đã hứa bảo đảm;
f) Việc trả nợ có lãi được ưu tiên hơn việc trả nợ không lãi. Các món
nợ không có lãi được hoàn trả theo một lịch được Đại hội đồng chấp nhận,
dựa theo kiến nghị của Hội đồng và sau khi có ý kiến của Hội đồng quản trị
của Xí nghiệp. Hội đồng quản trị thi hành chức năng này theo đúng các
điều khoản tương ứng trong các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan
quyền lực. Các quy tắc, quy định và thủ tục này có tính đến sự cần thiết cơ
bản là bảo đảm cho Xí nghiệp hoạt động tốt, và đặc biệt là, bảo đảm được
tính độc lập về tài chính của Xí nghiệp ;
g) Các khoản tiền đóng góp cho Xí nghiệp là bằng những đồng tiền
có thể sử dụng tự do hay bằng những đồng tiền được chuyển đổi tự do và
đang được sử dụng thực sự trên thị trường hối đoái chính. Những đồng tiền
này được xác định trong các quy tắc, quy định và thủ tục của Cơ quan
quyền lực theo đúng các tập quán tiền tệ quốc tế thông dụng. Với điều kiện
tuân thủ khoản 2, không một quốc gia thành viên nào áp dụng hay áp đặt
những điều hạn chế có liên quan đến khả năng để cho Xí nghiệp giữ, sử
dụng hay trao đổi các khoản tiền này.
h) Thuật ngữ "bảo đảm nợ", có nghĩa là một quốc gia thành viên hứa
với các chủ nợ của Xí nghiệp, giữ trọn nghĩa vụ tài chính của Xí nghiệp
được bảo đảm trong phạm vi được trù định trong ba-rem thích hợp, sau khi
các chủ nợ thông báo về việc Xí nghiệp không thực hiện các nghĩa vụ nói
trên. Các thủ tục thi hành các nghĩa vụ này phải phù hợp với các quy tắc,
quy định và thủ tục của Cơ quan quyền lực.
4. Các nguồn tài chính, tài sản và chi phí của Xí nghiệp phải tách khỏi các
nguồn tài chính, tài sản và chi phí của Cơ quan quyền lực. Tuy nhiên, Xí
nghiệp có thể ký kết với Cơ quan quyền lực các thoả thuận về việc hoàn lại
các chi phí hành chính mà cơ quan này đã chi phí cho cơ quan kia.
5. Các tài liệu, sổ sách và tài khoản của Xí nghiệp, kể cả các bản quyết toán
hàng năm, được một uỷ viên kế toán độc lập do Hội đồng chỉ định kiểm tra
hàng năm.
ĐIỀU 12. Các nghiệp vụ
1. Xí nghiệp đề xuất với Hội đồng các dự án liên quan đến các hoạt động
nói trong Điều 170. Những dự án này bao gồm một kế hoạch làm việc
chính thức và bằng văn bản về các hoạt động tiến hành trong Vùng, theo
đúng Điều 153, khoản 3, cũng như tất cả những thông tin hay số liệu khác
có thể cần thiết cho việc uỷ ban pháp lý và kỹ thuật đánh giá các dự án đó
và cho việc Hội đồng chuẩn y các dự án này.
2. Một khi dự án đã được Hội đồng chuẩn y, Xí nghiệp thi hành nó theo kế
hoạch làm việc chính thức và bằng văn bản đã nêu ở khoản 1.
3. a) Nếu Xí nghiệp không sẵn có các tài sản và dịch vụ cần thiết cho các
hoạt động của mình, thì có thể tìm lấy của cải và dịch vụ đó. Vì mục đích
đó, Xí nghiệp tiến hành gọi thầu và ký giao kèo với những người nhận thầu
nào lời nhất cả về chất lượng, giá cả lẫn thời gian giao hàng ;
b) Nếu nhiều đơn nhận thầu đáp ứng được các điều kiện này, thì giao
kèo đấu thầu phải theo đúng:
i. Nguyên tắc không phân biệt đối xử dựa trên các lý do chính trị
hoặc lý do khác không liên quan gì đến việc thi hành nhanh chóng và có
hiệu quả các nghiệp vụ;
ii. Các chỉ thị do Hội đồng quyết định có liên quan đến việc dành ưu
tiên cho các tài sản và dịch vụ do các quốc gia đang phát triển cung cấp,
đặc biệt là, các nước không có biển hay ở vào hoàn cảnh địa lý bất lợi trong
số các nước đó;
c) Hội đồng quản trị có thể thông qua các quy tắc xác định các hoàn
cảnh đặc biệt, mà trong đó, vì lợi ích của Xí nghiệp, nó có thể vi phạm
nghĩa vụ phải tiến hành các cuộc đấu thầu.
4. Xí nghiệp có quyền sở hữu đối với tất cả các khoáng sản và tất cả các
chất được chế biến mà xí nghiệp sản xuất ra.
5. Xí nghiệp bán các sản phẩm của mình trên một cơ sở không phân biệt đối
xử, và không chấp nhận việc giảm giá không có tính chất kinh doanh.
6. Không phương hại đến các quyền hạn chung hoặc đặc biệt nào do các
quy định khác của Công ước giao cho; Xí nghiệp sử dụng các quyền hạn
cần thiết để điều hành các hoạt động kinh doanh của mình.
7. Xí nghiệp không được can thiệp vào các hoạt động chính trị của các quốc
gia thành viên và không để cho khuynh hướng chính trị của quốc gia mà
mình có quan hệ gây ảnh hưởng đến các quyết định của mình. Các quyết
định của Xí nghiệp chỉ dựa trên cơ sở các lý do thuộc về thương mại mà Xí
nghiệp xem xét một cách vô tư nhằm đạt đến các mục đích được xác định ở
Điều 1 của Phụ lục này.

ĐIỀU 13. Quy chế pháp lý, các quyền miễn trừ và đặc quyền
1. Để cho phép Xí nghiệp thi hành các chức năng của mình, quy chế pháp
lý, các quyền miễn trừ và đặc quyền được xác định trong điều này được
thừa nhận cho Xí nghiệp hưởng trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên.
Để cho nguyên tắc này có hiệu lực, Xí nghiệp và các quốc gia thành viên có
thể ký kết các hiệp định đặc biệt mà họ thấy cần thiết.
2. Xí nghiệp có quyền về mặt pháp lý cần thiết để thi hành các chức năng
và thực hiện các mục đích của mình, và đặc biệt có quyền:
a) Ký các hợp đồng và các thoả thuận liên doanh hay các thoả thuận
khác, kể cả các hiệp định với các quốc gia hay các tổ chức quốc tế.
b) Mua sắm, thuê mướn, gìn giữ, và chuyển nhượng các động sản và
bất động sản;
c) Kiện tụng.
3. a) Xí nghiệp chỉ có thể bị kiện trước các toà án có thẩm quyền ở một
quốc gia thành viên mà trên lãnh thổ nước đó, xí nghiệp:
i. Có một văn phòng, hay có các cơ sở ;
ii. Đã chỉ định một nhân viên để tiếp nhận việc truyền đạt các bản
tống đạt về tư pháp;
iii. Ký giao kèo về của cải hay dịch vụ;
iv. Phát hành các chứng khoán, hoặc
v. Thực hiện một hoạt động thương mại dưới bất kỳ hình thức nào
khác.
b) Các của cải và tài sản của xí nghiệp, dù ở đâu và người giữ là ai,
đều được miễn mọi hình thức cầm giữ hay mọi biện pháp tịch thu tài sản
khác chừng nào mà một bản án cuối cùng đối với Xí nghiệp chưa được
tuyên bố.
4. a) Của cải và tài sản của xí nghiệp, dù ở đâu và do ai giữ, cũng được
miễn không bị trưng thu, tịch thu, tước đoạt hay phải chịu bất kỳ hình thức
sai áp nào khác do một biện pháp thuộc quyền hành pháp hay quyền lập
pháp.
b) Của cải, tài sản của Xí nghiệp, dù ở đâu và do ai giữ, cũng không
phải chịu một dự kiểm soát, hạn chế, quy định hay lệnh tạm hoãn nào mang
tính chất phân biệt đối xử, dù thuộc loại nào.
c) Xí nghiệp và nhân viên của Xí nghiệp tôn trọng các luật và quy
định của bất kỳ quốc gia hay lãnh thổ nào mà ở đó, Xí nghiệp hay nhân
viên tiến hành các hoạt động công nghiệp và thương mại hay các hoạt động
khác.
d) Các quốc gia thành viên bảo đảm cho xí nghiệp được hưởng tất cả
các quyền, quyền miễn trừ và đặc quyền mà họ đã đồng ý dành cho các
thực thể hoạt động thương mại ở trên lãnh thổ của mình. Các quyền, quyền

miễn trừ và đặc quyền này được dành cho các Xí nghiệp theo các thể thức
không kém thuận lợi hơn các quyền dành cho các thực thể hoạt động
thương mại tương tự. Khi các quốc gia đồng ý cho các quốc gia đang phát
triển hay các thực thể thương mại của họ hưởng các quyền ưu tiên đặc biệt,
thì Xí nghiệp cũng được hưởng các đặc quyền này trên một cơ sở ưu tiên
tương tự;
e) Các quốc gia thành viên có thể đồng ý cho Xí nghiệp được hưởng
các kích thích, quyền, đặc quyền và quyền miễn trừ đặc biệt mà họ không
buộc phải dành cho các thực thể thương mại khác hưởng.
5. Xí nghiệp thương lượng với các quốc gia mà ở trên lãnh thổ các quốc gia
đó, Xí nghiệp có các văn phòng và các cơ sở, để được miễn tất cả mọi thứ
thuế trực thu và gián thu.
6. Mỗi quốc gia thành viên thi hành các biện pháp cần thiết để đem lại hiệu
lực trong pháp luật của mình cho những nguyên tắc đã được nêu trong Phụ
lục này và thông váo cho Xí nghiệp biết những biện pháp cụ thể mà họ đã
định.
7. Xí nghiệp có thể từ bỏ bất kỳ đặc quyền hay quyền miễn trừ nào do điều
này do các hiệp định đặc biệt nói ở khoản 1 dành cho mình, trong phạm vi
và theo các điều kiện do mình quy định.

PHỤ LỤC V
VIỆC HOÀ GIẢI
MỤC 1
HOÀ GIẢI THEO ĐÚNG MỤC 1 CỦA PHẦN XV
ĐIỀU 1. Khởi đầu thủ tục
Nếu các bên trong một vụ tranh chấp thoả thuận đưa ra hoà giải theo thủ tục
được trù định ở mục này, theo đúng Điều 248, thì bất kỳ bên tranh chấp nào
đều có đề xuất thủ tục bằng một thông báo viết gửi đến cho bên khác hay
các bên khác trong vụ tranh chấp.
ĐIỀU 2. Danh sách các hoà giải viên
1. Tổng thư ký Liên hợp quốc lập và giữ một bản danh sách các hoà giải
viên. Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định bốn hoà giải viên có tiếng
là công minh nhất, có trình độ và vô tư nhất. Tên của các nhân vật được chỉ
định như vậy được ghi trên bản danh sách.
2. Nếu vào một thời điểm nào đó, số lượng các hoà giải viên do một quốc
gia thành viên chỉ định và thể hiện ở trên bản danh sách dưới bốn người, thì
quốc gia này có thể tiến hành việc chỉ định bổ sung mà mình có quyền.
3. Tên của một hoà giải viên được ghi trên bản danh sách cho đến khi bị
quốc gia thành viên chỉ định người đó rút đi, đương nhiên là hoà giải viên
này tiếp tục giữ chức ở bất kỳ uỷ ban hoà giải nào mà người này đã được
cử, cho đến khi thủ tục tiến hành trước khi uỷ ban này được hoàn thành.
ĐIỀU 3. Cơ cấu của uỷ ban hoà giải
Trừ khi các bên có thoả thuận khác, uỷ ban hoà giải được lập ra theo các
cách sau đây:
a) Với điều kiện tuân thủ điểm g, uỷ ban hoà giải gồm có năm uỷ
viên.
b) Bên đề xuất thủ tục chỉ định hai hoà giải viên được tuỳ ý lực chọn
trên bản danh sách nói ở Điều 2 của Phụ lục này, và một trong hai hoà giải
viên đó có thể là công dân của mình, trừ khi các bên có thoả thuận khác.
Việc chỉ định này được ghi rõ trong thông báo được trù định ở Điều 1 ;

c) Bên kia trong vụ tranh chấp, trong một thời hạn 21 ngày, kể từ khi
nhận được thông báo nói ở Điều 1, chỉ định hai hoà giải viên theo cách đã
trù định ở điểm b. Nếu việc chỉ định này không được tiến hành trong thời
hạn quy định, bên đề xuất thủ tục, trong tuần lễ tiếp sau khi hết thời hạn
này, có thể hoặc chấm dứt thủ tục bằng thông báo gửi cho bên kia, hoặc yêu
cầu Tổng thư ký Liên hợp quốc tiến hành những bổ nhiệm người này theo
đúng điểm e;
d) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bổ nhiệm người hoà giải cuối
cùng, bốn hoà giải viên chỉ định một người thứ năm, được lựa chọn trên
danh sách nói ở Điều 2 của Phụ lục này, người thứ năm này sẽ là Chủ tịch.
Nếu việc bổ nhiệm không được làm trong thời gian quy định, thì mỗi bên,
trong tuần lễ tiếp sau khi kết thúc thời hạn này, có thể yêu cầu Tổng thư ký
Liên hợp quốc tiến hành việc bổ nhiệm này theo đúng điểm e;
e) Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được một yêu cầu làm theo
các điểm c hoặc điểm d. Tổng thư ký Liên hợp quốc tiến hành việc bổ
nhiệm cần thiết bằng cách lựa chọn, có tham khảo ý kiến với các bên trong
vụ tranh chấp, các nhân vật ghi ở bản danh sách nêu ở Điều 2 của Phụ lục
này ;
f) Cần bổ sung bất kỳ ghế nào bị trông theo cách đã trù định cho việc
bổ nhiệm ban đầu ;
g) Khi hai bên hay nhiều bên thoả thuận cũng đứng về một phía thì
họ cùng nhau chỉ định hai hoà giải viên. Khi hai hay nhiều bên không cùng
đứng về một phía hay không thể thoả thuận về điểm có đứng về một phía
hay không, thì họ chỉ định các hoà giải viên riêng lẻ;
h) Khi có quá hai bên không đứng về cùng một phía hay không thể
thoả thuận về điểm có đứng về một phía hay không, thì các bên trong vụ
tranh chấp áp dụng các điểm a đến f đến hết mức có thể.
ĐIỀU 4. Thủ tục
Trừ khi các bên hữu quan có thoả thuận khác, uỷ ban hoà giải tự quyết định
thủ tục của mình. Với sự thoả thuận của các bên trong vụ tranh chấp, uỷ
ban hoà giải có thể mời bất kỳ quốc gia thành viên nào trình bày với mình
những ý kiến của họ bằng lời hay bằng văn bản. Các quyết định về thủ tục,
các kiến nghị và báo cáo của uỷ ban được thông qua theo đa số các uỷ viên
của mình.
ĐIỀU 5. Giải pháp hoà giải
Uỷ ban có thể lưu ý các bên về mọi biện pháp có thể có để làm dễ dàng cho
giải pháp hoà giải vụ tranh chấp.
ĐIỀU 6. Các chức năng của uỷ ban

Uỷ ban lắng nghe các bên, xem xét các đòi hỏi và ý kiến phản đối của họ và
nêu ra các đề nghị nhằm giúp họ đạt tới một giải pháp hoà giải vụ tranh
chấp.
ĐIỀU 7. Báo cáo
1. Uỷ ban làm báo cáo trong vòng 12 tháng sau khi được lập ra. Báo cáo
của uỷ ban bao gồm bất kỳ thoả thuận nào đạt được và, nếu không có thoả
thuận, các kết luận của uỷ ban về tất cả các điểm về thực tế hay pháp lý có
quan hệ tới đối tượng của vụ tranh chấp, cũng như những khuyến nghị mà
uỷ ban xét thấy thích hợp, nhằm đi tới một giải pháp hoà giải. Báo cáo được
gửi lên Tổng thư ký Liên hợp quốc và chuyển tới các bên tham gia vụ tranh
chấp.
2. Báo cáo của uỷ ban, kể cả mọi kết luận hay khuyến nghị trong đó, không
ràng buộc các bên.
ĐIỀU 8. Việc kết thúc thủ tục
Thủ tục hoà giải kết thúc khi vụ tranh chấp đã được giải quyết khi các bên
đã chấp nhận hay một bên đã bác bỏ các khuyến nghị trong báo cáo qua con
đường thông báo bằng văn bản gửi lên cho Tổng thư ký Liên hợp quốc,
hoặc là sau ba tháng kể từ ngày truyền đạt báo cáo cho các bên.
ĐIỀU 9. Tiền thù lao và lệ phí
Tiền thù lao và lệ phí của Uỷ ban do các bên tham gia tranh chấp chịu.
ĐIỀU 10. Quyền của các bên không theo thủ tục
Các bên tham gia tranh chấp, qua một thoả thuận áp dụng chỉ cho vụ tranh
chấp này, có thể thoả thuận bỏ qua bất kỳ quy định nào của Phụ lục này.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN - Phân 10
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Ngưng tất cả các hoạt động trên Forum :: ..::..Ban Quản Trị Diễn Đàn..::.. :: Tin tức-
Chuyển đến